Hotline: 0936070109

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói Huyện Gia Lâm

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói Huyện Gia Lâm Từ thời Lý - Trần, Thăng Long đã có Thập Tam Trại. Đây vốn là những làng nghề cổ xưa nhất của vùng đất kinh kì. Sau đó

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói Huyện Gia Lâm

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói Huyện Gia Lâm
Dịch vụ chuyển nhà trọn gói Huyện Gia Lâm Từ thời Lý - Trần, Thăng Long đã có Thập Tam Trại. Đây vốn là những làng nghề cổ xưa nhất của vùng đất kinh kì. Sau đó, Thăng Long dần trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Phố phường hình thành và tên gọi 36 phố phường trở nên quen thuộc với người dân vùng đất kinh đô hơn bao giờ hết. Mỗi phố mỗi phường nghề tạo cho vùng đất này những đặc trưng riêng mà hiếm vùng miền nào có được. Bằng sức lao động cần cù và tài năng khéo léo, những con người nơi đây đã làm ra được sản phẩm hàng hoá tinh xảo cung cấp cho dân chúng kinh kỳ và các vùng lân cận, làm cho phố phường ngày càng trở nên sầm 
Nét đẹp của Hà Nội gói gọn trong hai cặp lục bát và làng giấy Kẻ Bưởi - Yên Thái ngày đêm vang tiếng chày cũng in đậm trong tâm trí của mọi người. Hiện nay, làng nghề giấy dó Kẻ Bưởi - Yên Thái nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội.
Không biết nghề làm giấy dó ở vùng này xuất hiện từ khi nào, nhưng nó đã trở nên nổi tiếng và đi vào ca dao, trở thành một điểm đặc trưng cho các làng nghề ở đất Thăng Long - Hà Nội. Những người làm nghề hiện nay cũng không biết tên ông Tổ nghề là gì dù bàn thờ Tổ vẫn nghi ngút khói trong các làng nghề xưa và nay.
Theo các tài liệu còn lưu lại đến ngày nay thì nghề làm giấy đã có ở nước ta từ lâu đời. Năm 284, một thương nhân La Mã đã mua của Giao Chỉ hàng vạn tờ giấy mật hương, một loại giấy thơm, để dâng lên vua Tấn Võ Đế. Một học giả người Hoa là Kê Hàm cũng đã xác nhận giấy Mật Hương của Giao Chỉ làm bằng gỗ trầm thơm, màu trắng, có vân vảy cá, thả vào nước không nát. Vậy ít nhất thì nghề làm giấy đã có ở nước ta từ thế kỷ 3 sau công nguyên.
Cho đến khi nhà nước Đại Việt ra đời và định đô ở Thăng Long thì nghề này ở làng Yên Thái đã phát triển mạnh. Giấy dó Yên Thái đã từng là mặt hàng triều cống cho triều đình nhà Tống của đời vua Lý Cao Tông (1176- 1210). Trong sách "Dư địa chí" (1435), Nguyễn Trãi cũng đã đề cập đến phường Yên Thái ở Thăng Long gồm nhiều làng: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái, Nghĩa Đô làm ra nhiều loại giấy: giấy sắc (để viết sắc của vua ban), giấy lệnh (để viết các lệnh chỉ của vua), giấy bản (phục vụ dân dụng), giấy quỳ...Nghề làm giấy cổ truyền ở Yên Thái xưa cũng đã khá phức tạp, nó đòi hỏi từng loại thợ ở từng công việc cụ thể phải có kinh nghiệm và giỏi nghề. Sự chuyên môn hoá ấy còn chịu sự chi phối bởi mục đích sản xuất, sản lượng và chất lượng giấy theo yêu cầu. Có lẽ vì thế mà các làng kẻ Bưởi đã trở thành một phường nghề phát triển cho đến tận thế kỷ 19, khi mà các loại chế bản với phương thức in mới không còn phù hợp với loại giấy cũ. Từ những công đoạn đầu tiên là bóc, giã vỏ cây dó, cho đến các công đoạn phức tạp hơn như nấu, lọc, seo giấy đều cần những người thợ lành nghề.
Sản phẩm truyền thống của Yên Thái chủ yếu là giấy bản để in sách và viết chữ nho (bằng bút lông, mực tàu) và giấy dó (dầy hơn giấy bản) để in tranh dân gian. Trước kia phố Hàng Giấy chuyên bán đủ các thứ giấy của vùng Bưởi sản xuất và cũng đã từng làm hài lòng biết bao văn nhân, tài tử từ khắp các xứ Đông, Nam, Đoài, Bắc, qua xứ Nghệ vào tận lục tỉnh phía Nam. Ngoài ra, thợ giấy Yên Thái cũng sản xuất loại giấy moi, giấy phèn bằng nguyên liệu xấu hơn, mặt giấy thô ráp dùng để gói hàng. Ngày nay do công nghệ sản xuất giấy hiện đại đã khiến nghề làm giấy dó cổ truyền của Yên Thái không còn nữa, nhưng làng Yên Thái (làng Bưởi) vẫn còn đó như một chứng tích về một vùng quê với nghề giấy dó từng nổi tiếng khi xưa.
 Làng đúc đồng Ngũ Xã nằm ở phía Tây Hà Nội, bên hồ Trúc Bạch. Đây là nơi sản sinh ra biết bao các sản phẩm đồng thau cực kỳ tinh xảo cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ đồ đồng của thành Thăng Long xưa.
Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ - Một trong những sản phẩm của làng đúc đồng Ngũ Xã
Ngũ Xã nghĩa là 5 làng. Sử sách ghi lại rằng, vào khoảng thời Lê (1428 -1527), dân 5 làng Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Điện Tiền và Đào Viên (mà tên nôm là các làng Hè, Rồng, Dí Thượng, Dí Hạ...) thuộc huyện Văn Lâm - Hưng Yên và Thuận Thành - Bắc Ninh, vốn có nghề đúc đồng đã về kinh thành để lập trường đúc tiền và đồ thờ. Tại đây họ đã sinh cơ lập nghiệp và tạo dựng làng mới trên đất Thăng Long nên mới lấy tên Ngũ Xã để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình. Về sau tổ chức thành phường nghề riêng, gọi là phường đúc đồng Ngũ Xã, nay là phố Ngũ Xã nằm ở phía đông hồ Trúc Bạch, thuộc quận Ba Đình.
Làng làm nghề đúc đồng trong suốt khoảng 500 năm và đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu của nghệ thuật dân tộc. Sản phẩm nổi bật nhất của làng là chuông và tượng đồng. Chuông là một nhạc cụ đặc biệt, khi gõ âm thanh phải vang ngân, do đó đòi hỏi các phần của chuông phải có độ dày mỏng khác nhau. Vì thế, từ khâu làm khuôn, đến pha chế đồng, nấu đồng và rót đồng vào khuôn đều phải tuân theo một quy trình hết sức nghiêm ngặt và tinh vi, nhiều khi là bí quyết nhà nghề.
Tượng đồng cũng là một sản phẩm khá nổi tiếng của Ngũ Xã, tiêu biểu là pho tượng A Di Đà đúc vào năm 1952 ở chùa Thần Quang. Tượng ở tư thế ngồi bằng, hình khối đơn giản nhưng hài hoà. Tượng cao 3,95m, chu vi tượng 11,6m, toàn bộ pho tượng nặng trên 10 tấn, toạ lạc trên toà sen bằng đồng 96 cánh. Đây là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng kỳ vĩ, độc đáo, tinh tế trên mọi phương diện. Tượng được bố cục hết sức hài hoà, hợp lý. Vẻ mặt đức Phật hiền từ, trầm tĩnh, gần gũi. Từ thân hình, dáng ngồi đến nếp áo đều toát lên sự trầm lắng, sâu xa, nhưng lại giống như người thực. Điều đó thể hiện quan niệm nhân sinh trong truyền thống tạc tượng Phật Việt Nam. Để có bức tượng, các nghệ nhân ở đây đã phải ròng rã gần 4 năm trời, từ năm 1949 -1952. Nét độc đáo là bức tượng được đúc rỗng liền một khối thể hiện một kỹ thuật bí truyền của làng nghề.
Ngoài chuông và tượng Phật Di Đà, người thợ đúc đồng Ngũ Xã còn để lại hàng loạt tác phẩm khác cũng rất nổi tiếng, được coi là kiệt tác của nghệ thuật đồng thau Việt Nam như: pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ tọa lạc tại đền Quán Thánh được đúc năm 1677 có trọng lượng 3.624kg, cùng những đồ thờ bằng đồng như lư hương, chân đèn, hạc đồng ở các đình chùa miền Bắc... đã vốn được coi như các cổ vật quí.
Trước đây, nghề đúc đồng Ngũ Xã đã được coi là 1 trong 4 nghề tinh hoa bậc cao của Thăng Long xưa. Điều này được thể hiện trong câu vè được lưu truyền từ bao đời: "Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã".
Hiện này, làng nghề vẫn còn tồn tại và là nơi sản sinh ra nhiều sản phẩm đẹp thể hiện tài hoa của người thợ nghề vùng đất kinh kì. Các sản phẩm của làng nghề không chỉ tiêu thụ trong nước và còn được xuất ra nước ngoài.
Làng lụa vạn Phúc là một làng nghề dệt lụa tơ tằm thủ công nổi tiếng từ xưa đến nay của thủ đô Hà Nội. Có nhiều truyền thuyết kể lại lịch sử hình thành làng lụa nổi tiếng này. Thuyết được nhiều người tương truyền nhất, nói rằng bà tổ làng Lụa Vạn Phúc vốn người Hàng Châu (Trung Quốc) theo chồng chinh chiến Bắc Nam, rồi neo lại làng này. Nỗi nhớ quê hương da diết của bà trút hết vào nghề tầm tang, canh cửi nơi dòng Nhuệ giang êm đềm tha thiết. Ngày nối ngày, đời trải đời và nghề dệt trở thành “truyền thống” của làng Vạn Phúc. Một số thuyết khác, có nói rằng truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có từ hơn ngàn năm trước, do một vị tổ sư tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng Vương, truyền dạy. Để ghi nhớ công ơn, dân làng tôn bà làm Thành hoàng, tổ sư nghề dệt, thờ tại đình làng Vạn Phúc, lấy ngày 10 tháng Tám âm lịch, ngày sinh của bà và 25 tháng Chạp âm lịch, ngày mất của bà, làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng năm. Thêm một thuyết khác nói rằng, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc. Như vậy, theo các truyền thuyết thì làng lụa Vạn Phúc có thể ra đời vào khoảng thế kỉ thứ 9 và tồn tại đến nay đã hàng ngàn năm.
Trong các loại lụa cổ truyền Vạn Phúc, nổi tiếng nhất có lẽ là lụa Vân, một loại lụa tưởng chừng như đã thất truyền nếu không có sự khôi phục của các nghệ nhân làng nghề, đặc biệt là sự đóng góp của nghệ nhân dân gian Triệu Văn Mão. Nét đặc biệt của lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung là ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý ... khiến cho các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động. Lụa Vạn Phúc đã hai lần được người Pháp mang đi đấu xảo tại Paris và Marseille vào năm 1931, 1938. Lụa ở đây được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia... Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới.Trước đây, lụa Vạn Phúc là sản phẩm sang trọng thường dành cho vua chúa, quan lại và những người giàu có. Ngày nay, từ chất liệu tơ tằm với công nghệ cổ truyền, người Vạn Phúc đã dệt nên nhiều loại vải lụa có chất lượng cao được khách hàng trong và ngoài nước ưa thích. Đây còn là điểm du lịch làng nghề hấp dẫn. Vạn Phúc hiện có 785 hộ dân làm nghề dệt, chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại làng nghề. Hàng năm, Vạn Phúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề (khoảng 27 tỷ đồng). Hiện nay, Vạn Phúc có trên 1.000 máy dệt và hàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây làm việc. Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 100 cửa hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.Làng gốm Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trải qua nhiều thăng trầm từ thời Lý đến nay, làng gốm Bát Tràng vẫn luôn là một địa chỉ tin cậy của nhiều người. Cuộc sống lao động sản xuất ở đây luôn sôi động. Các sản phẩm thể hiện những tinh hoa đúc kết qua lao động của biết bao thế hệ người con Bát Tràng đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hoá nước ta và làm rạng danh một làng nghề. Tục truyền, làng ban đầu có tên là làng Bạch Thổ. Theo truyền thuyết dân gian thì nghề gốm Bát Tràng xuất hiện từ thời Lý. Một nhóm người vùng Bạch Bát (Bồ Bát) thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đi thuyền ngược sông Hồng buôn bán gần đến Thăng Long, thấy một bãi đất hoang phì nhiêu liền ghé vào nghỉ đêm. Một trong số những người đó đã mơ thấy vua Thuỷ tề đón xuống thuỷ cung chơi. Khi ra về, vua Thuỷ tề còn sai một đoàn thợ đi theo và xây cho một toà nhà lộng lẫy toàn bằng đất thó. Thế hệ con cái về sau cứ cạy đất thó để ăn mà tường mãi không đổ. Tỉnh dậy, người đó mới đem giấc mơ để lại cho cả đoàn nghe, tất cả đều cho là điềm lành bèn ở lại cắm đất lập làng.
Ngoài ra, tại Bát Tràng hiện nay vẫn còn lưu truyền một câu chuyện dân gian nói đến nguồn gốc nghề gốm của vùng. Đó là vào thời nhà Lý , ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều, Đào Trí Tiến, Lưu Phương Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về nước thì gặp bão phải nghỉ lại ở một lò gốm nổi tiếng. Ba ông đến thăm, học được một số kĩ thuật và đem về nước truyền dạy lại. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạng trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng. Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng nước men màu đỏ vàng thẫm. Hiện nay, đây là ba vùng làm gốm đặc trưng nhất của miền Bắc nước ta.
Sản phẩm đầu tiên được biết đến của Bát Tràng là gạch. Sản phẩm này đã đi vào ca dao:
Những viên gạch này được làm bằng đất sét chịu lửa đun ở nhiệt độ cao, được dùng xây móng của những cung điện của Hoàng thành Thăng Long vào buổi đầu khi Lý Thái Tổ dời đô. Sau đó, hầu hết những di sản văn hoá của nước ta đều có sự đóng góp của gạch Bát Tràng.
Đến thời Trần, Lê, hàng gốm Bát Tràng bắt đầu phát triển mạnh mẽ, không những người được người trong nước ưa chuộng mà còn là mặt hàng bán ra các nước như Nhật Bản, Inđônêxia, Hàn Quốc... Gốm Bát Tràng còn được coi là một cống phẩm quý của Việt Nam với các triều Nguyên, Minh. Hiện nay, những sản phẩm gốm của thời kì này còn được lưu giữ trong Bảo tàng Lịch sử, ngay trên quê hương làng gốm và một số làng xã lân cận.
Sở dĩ gốm Bát Tràng được ưa chuộng không chỉ bởi đẹp mà còn quý bởi nó được làm thủ công bằng tay ở tất cả các công đoạn, từ tạo hình, tạo dáng, đến nét vẽ khắc hoa văn. Các loại men từ men đàn, men rạn, men ngà, men lam, men búp dong... được nung ở nhiệt độ cao, gốm không bị ngấm nước, men không bị thời gian làm mòn. Một tiến sĩ người Mỹ chuyên gia nghiên cứu về gốm sứ, sau khi làm việc gần 3 tháng với các thợ giỏi của Bát Tràng và khi nghiên cứu các đặc tính riêng của gốm Bát Tràng đã kết luận: "Gốm Việt Nam thuộc nhóm I của thế giới và gốm Bát Tràng đứng đầu ở nhóm I đó" (Tiến sĩ F.MooooNey).
Hiện nay, gốm Bát Tràng vẫn còn phát triển và kế thừa đẩy đủ những bí quyết, tinh hoa của cha ông để lạị để tạo nên những sản phẩm không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nước ngoài.
Làng gốm Bát Tràng đã được UBND thành phố Hà Nội quy hoạch làng nghề, phát triển cơ sở hạ tầng để sản phẩm của làng có thể được nhiều người dân trong và ngoài nước biết đến nhiều hơn nữa.
Làng Cự Đà toạ lạc ở xã Cự Đà, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, nổi tiếng về nghề làm tương nếp. Tương nếp Cự Đà có vị ngọt và hương thơm rất đặc biệt.
Tương Cự Đà được chế biến rất công phu. Đối với gạo, phải chọn loại gạo nếp cái hoa vàng không lẫn với gạo tẻ. Về đậu tương cũng phải là đậu tương leo, khi chín hạt vẫn nhỏ và có màu vàng nhạt. Khi đã chọn được gạo, đậu tương vừa ý mới bắt đầu công đoạn phức tạp và khó nhất là thổi xôi và rang đậu. Xôi thổi chín phải dẻo, không nát, tất cả hạt xôi phải còn nguyên hình gạo để có thể lên mốc dễ dàng. Còn đậu tương rang không được sống, không được cháy, hạt đậu phải vàng đều và tróc vỏ. Khi mốc của xôi đã đều, có màu vàng óng thì đem ủ với đậu tương rang và một lượng men, mà loại men này chỉ người làng Cự Đà mới làm được. Nước ủ tương cũng phải là nước mưa hay nước giếng khoan được lọc đi lọc lại nhiều lần.
Quá trình chế biến tương đều được làm thủ công bởi bàn tay của những nghệ nhân khéo léo và không hề thêm một chất phụ gia nào. Chính vì vậy mà tương vẫn giữ được một mùi vị truyền thống, thơm ngon, tinh khiết, không thể lẫn với tương của bất kỳ một địa danh nào khác. Hương vị ấy trải qua bao nhiêu năm tháng vẫn không mai một, đổi thay.
Tương Cự Đà nổi tiếng hàng mấy trăm năm, là một làng nghề truyền thống của vùng đất Thăng Long - Hà Nội và đã đi vào ca dao:
Ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội có một làng nghề đặc biệt đã đi vào đời sống của người dân Thăng Long - Hà Nội bao thế hệ. Đó là làng Chuông với nghề làm nón nổi tiếng. Tương truyền, chiếc nón Chuông có hình dáng như hiện nay xuất hiện vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XX khi cụ Hai Cát, một nghệ nhân làng Chuông học nghề từ Thanh Hoá về truyền dạy cho dân. Từ đó nghề làm nón ngày một phát triển. Nón lá nơi đây nổi tiếng dày, bền chắc và mũi đều, mềm mại. Nhưng để có được một chiếc nón ưng ý như thế người dân đã phải trải qua rất nhiều bước công phu.
Nón làng Chuông được làm từ lá lụi Quảng Bình, đòi hỏi lá phải trắng, mỏng, bền và đẹp. Đầu tiên là chọn lá. Lá lụi được đem về vò trong cát rồi phơi nắng cho đến khi màu xanh của lá chuyển sang màu trắng bạc. Sau đó, lá được lót dưới nắm giẻ, dùng lưỡi cày miết nhanh sao cho lá phẳng mà không giòn không rách. Vòng nón làm bằng cật nứa vót nhỏ và đều khi nối bắt buộc phải tròn và không chắp, không gợn. Nón làng Chuông có 16 lớp vòng giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn mềm mại. Tiếp theo người thợ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá nữa rồi khâu. Khâu là một công đoạn rất khó bởi không khéo là lá rách ngay. Bàn tay người thợ cầm kim đưa nhanh thoăn thoắt, mềm mại từng mũi khâu thẳng đều từ vòng trong ra vòng ngoài. Khi chiếc nón được khâu xong, người thợ hơ bằng hơi diêm làm cho màu nón trở nên trắng muốt và giúp nón không mốc.
Hiện nay, làng Chuông cung cấp cho thị trường khoảng 3 triệu chiếc nón mỗi năm. Không chỉ cung cấp nón cho khắp miền Bắc, mà nón làng Chuông những năm trở lại đây đã theo các đoàn khách du lịch, đông nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông... ra nước ngoài. Khách hàng trong Nam chỉ cần gọi điện đặt số lượng, thoả thuận giá cả thống nhất, người làng Chuông sẽ tập kết nón gần bến xe Hà Đông, ngay lập tức chuyển hàng đi. Một số du khách nước ngoài yêu quý chiếc nón Việt đã về tận làng Chuông để tham quan và mua những món quà lưu niệm mang về quê hương. Đó có lẽ là món quà động viên quý giá 
Làng nghề Hạ Thái có từ hơn 200 năm nay và là làng nghề sơn mài truyền thống nổi tiếng trong cả nước. Hiện nay làng Hạ Thái là một thôn thuộc xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Sơn mài Hạ Thái nổi tiếng nhờ pha sơn theo kinh nghiệm cổ truyền. Tuy nhiên, hiện nay, các sản phẩm sơn mài của Hạ Thái cũng đã được áp dụng kĩ thuật hiện đại để pha chế, thay đổi một vài công đoạn phủ sơn nhằm giảm bớt thao tác thừa, tạo ra loại sơn mới có độ bóng, bền, đẹp.
Nguyên liệu làm sơn là nhựa cây sơn. Kĩ thuật làm sơn phức tạp nên thợ phải học và thực hành nhiều mới làm được nghề. Để có thể “vẽ” trên mặt sản phẩm, phải làm “vóc” kỹ. Nền “vóc” là phần lót trong bằng gỗ, giấy, các tông, cót ép. Chỉ với 1 cái lọ, hộp hoặc khay, tráp đã phải qua nhiều thao tác sơn (sơn bó, sơn bom, sơn quang). Thường từ cốt một đến lần sơn cuối phải qua từ 8 đến 10 nước sơn, kể cả sơn sống và sơn chín. Sau mỗi nước sơn, đều có động tác mài nhẵn tạo độ bóng, trong, sâu màu. Nếu muốn thếp vàng, bạc phải qua một nước cầm thếp. Giá một quỳ vàng bằng 2/3 chỉ vàng ta nên đã làm tăng giá trị thẩm mỹ và giá thành sản phẩm. Hiện nay hàng sơn mài Hạ Thái được bày bán nhiều ở trong nước và các nước Đông Âu và là một làng nghề phát đạt trong cơ chế thị trường hiện nay.
Hiện tại, làng nghề Hạ Thái có chủng loại và số lượng hàng rất phong phú, ngoài các sản phẩm truyền thống như tượng Phật, đồ thờ cúng ... còn có nhiều mẫu sản phẩm như bát, đĩa, lọ hoa, tranh sơn mài, tranh khảm... không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Mĩ, Nhật ... Hiện có khoảng 80% dân làng Hạ Thái làm nghề, mỗi năm sản xuất hàng triệu sản phẩm. Chính sự ổn định của làng nghề cũng như việc bảo tồn những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của sản phẩm đã góp phần để Hạ Thái trở thành một trong hai làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống trong cả nước được Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) chọn làm điểm chiến lược phát triển làng nghề bền vững đến hết năm 2010.
Làng điêu khắc Nhị Khê Làng nghề Nhị Khê, xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam; sau là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Làng nằm bên bờ sông Lịch, phía Tây quốc lộ 1A, cách khoảng 300m, phía Nam cầu Quán Gánh.
Làng làm nghề tiện gỗ với lịch sử hàng trăm năm và đến nay vẫn luôn nhộn nhịp, thể hiện một sức sống mãnh liệt của một làng nghề truyền thống. Các hộ kinh doanh, làm nghề ở Nhị Khê hoạt động như một xí nghiệp khép kín với đầy đủ các trang thiết bị sản xuất từ thô sơ đến hiện đại.
Người dân nơi đây cho biết, thông thường, đồ tiện gỗ chỉ có hai chủng loại: Một là đồ thờ cúng: ống hương, bát nhang, mâm bồng, lọ hoa, đài nến... bằng gỗ mộc tiện ra rồi đem sơn son thếp vàng. Hai là đồ dân dụng như: chấn song gỗ, tay vịn cầu thang, chân bàn ghế, tủ, hạt xâu làm mành, chiếu gỗ, thảm gỗ, đệm ghế ngồi ô tô, đồ trang trí nội thất... Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chống Pháp và chống Mỹ, với vốn nghề do cụ tổ truyền lại, người dân Nhị Khê đã sáng tạo và tiện ra những sản phẩm có ích phục vụ quân đội, chiến tranh như: cán xẻng, khung tăng bạt, chuôi lựu đạn...
Trước đây, các sản phẩm của Nhị Khê chủ yếu bằng gỗ và phục vụ nhu cầu sử dụng thông thường nhưng với sức sáng tạo và những bí quyết cổ truyền, các sản phẩm của Nhị Khê có độ tinh xảo và chất lượng ngày càng cao với nhiều chất liệu quý như sừng, xương, ngà... đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Các sản phẩm không chỉ thông dụng mà đã là những đồ thủ công mỹ nghệ cao cấp được khách hàng trong và ngoài nước ưa thích. Nguyên liệu để tiện bây giờ không chỉ dừng lại ở gỗ, người thợ còn tiện cả những chất liệu được du khách ưa chuộng như: sừng, ngà, xương, vỏ trai, đá... Từ làng quê nhỏ bé này, rất nhiều đồ trang sức, thủ công mỹ nghệ chất lượng cao như: tràng hạt đeo, bình, lọ, bát, đĩa, hộp đựng, gạt tàn thuốc, các con vật quý, đế đèn, cây đèn... đã “vượt biên giới” đến với nhiều nước châu Âu, châu Á.
Làng nghề Nhị Khê cũng là địa điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Khi đến đây, du khách không chỉ được tận mắt chứng kiến bàn tay khéo léo của những người thợ tài hoa “biến” những súc gỗ xù xì trở thành những sản phẩm tinh xảo; mà còn được hoà vào một không gian làng quê rất đặc trưng của Bắc Bộ với cây đa, giếng nước, sân đình, đồng thời nghe người dân kể chuyện về những danh nhân, con người đã góp phần tạo nên mảnh đất lịch sử này.
Nghề tiện gỗ ở Nhị Khê có lịch sử hàng trăm năm nay. Tương truyền Tổ tiên Thánh sư Đoàn Tài là người đã có công khai sinh ra làng nghề. Truyện kể rằng, dưới thời vua Lê chúa Trịnh, có một người thợ tiện tài hoa tên là Đoàn Tài. Đoàn Tài có khả năng tiện được nhiều sản phẩm độc đáo như: cái điếu 18 lỗ hút, có thể để 18 trai tráng cùng hút một lúc... Đặc biệt, nhiều sản phẩm do ông tiện đã được đem tiến vua. Bằng tài nghệ của mình, ông đã được vua phong sắc “Lê Triều sắc tứ mộc tượng”. Ông đến Nhị Khê và truyền nghề tiện cho dân làng nơi đây.
Hiện nay, làng nghề Nhị Khê có khoảng 400 hộ, đa số đều theo nghề tiện truyền thống của làng. Nghề tiện Nhị Khê không chỉ tạo công ăn việc làm cho người dân trong làng mà còn thu hút được nhiều lao động từ các làng lân cận. Thu nhập của nghề đang chiếm khoảng 80% thu nhập của cả làng. Cơ sở hạ tầng trong làng được cải thiện nhanh chóng, đường được trải nhựa, các nhà cao tầng khang trang, hiện tại, các loại xe ô tô đắc tiền không còn xa lạ với người dân ở vùng đất được xem là còn đậm chất nông thôn Bắc Bộ. Cung cách làm ăn, buôn bán của dân làng Nhị Khê cũng vượt qua mức thủ công, nhỏ lẻ mà trở nên chuyên nghiệp hơn như giao dịch, mua bán qua internet, sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong giao tiếp...
Tuy nhiên, cũng như nhiều làng nghề khác, hiện nay, người dân làng Nhị Khê cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường. Hiện tại,  người dân nơi đây vẫn đang chờ đợi dự án quy hoạch xây dựng làng nghề tập trung tại khu đồng Sếu với diện tích 25 ha để làng nghề có thêm điều kiện phát triển và hạn chế tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng.
Làng nghề Nhị Khê hiện là một điểm du lịch văn hoá thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Làng nghề cũng được lưu truyền trong ca dao:
Bao giờ Thường Tín hết cây,
Sông Tô cạn nước, Nhị Khê bỏ nghềQuất Động thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Làng có nghề thêu và trở thành một trung tâm thêu của Hà Đông cũ và của cả nước từ giữa thế kỷ XVII do Lê Công Hành truyền dạy nghề. Như vậy, nghề thêu ở Quất Động đã có khoảng 500 năm nay. Xưa kia, thợ Quất Động cũng như thợ thêu các nơi chỉ làm các loại nghi môn, câu đối, trướng và các loại khăn chầu, áo  ngự của vua chúa. Kỹ thuật thêu cũng đơn giản, màu sắc chưa thật phong phú như ngày nay. Mãi đến đầu thế kỷ XX, nghề thêu mới tiến thêm một bước mới, do có nguyên vật liệu nhập ngoại, như các loại chỉ và màu công nghiệp của phương Tây. Theo năm tháng, nghề thêu tiến triển và có bước ngoặt quan trọng, nhiều loại sản phẩm thêu thủ công đã đạt chất lượng và mỹ thuật cao. Ngày nay, các sản phẩm thêu của làng đã đi khắp các châu lục, góp phần tô điểm và phong phú thêm cho nền văn hóa Việt. Những tác phẩm tuyệt vời ấy còn giúp cho đời sống của người làng Quất Động thêm khấm khá và no đủ để họ yên tâm gìn giữ nghề truyền thống của tổ tiên. Hòa cùng dòng chảy của thời gian, những đường kim, mũi chỉ tinh hoa đã trở thành niềm tự hào của biết bao thế hệ dân làng Quất Động, để họ cùng nhau cất lên câu ca: Thành phố Hà Nội hiện có 1270 làng nghề, chiếm 56% tổng số làng trên địa bàn thành phố với hàng chục nhóm nghề như gốm sứ, dệt may, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, sơn mài, mây tre đan... Khu vực làng nghề đã thu hút gần 1 triệu lao động tham gia sản xuất, chiếm trên 42% tổng số lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố. Năm 2009, thành phố đã công nhận và vinh danh 272 làng nghề. Với những làng nghề được giới thiệu ở đây, bài viết chỉ như một phát hoạ nhỏ để cùng góp vào những truyền thống, những nét văn hoá đặc sắc nhằm tôn vinh một thủ đô vừa tròn 1000 năm tuổi. Chuyển nhà thành hưng, taxi tải thành hưng

  Ý kiến bạn đọc

background200 800 left
background200 800 right
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây