Hotline: 0936070109

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh  là một tỉnh giáp ranh giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du Bắc Bộ Đây là vùng đất truyền thống

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Dịch vụ chuyển nhà trọn gói TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Dịch vụ chuyển nhà trọn gói TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh  là một tỉnh giáp ranh giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du Bắc Bộ. Đây là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, thường được gọi với tên là Kinh Bắc.
Điều kiện tự nhiên Bắc Ninh là tỉnh nằm ở khu trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ là 21000' - 21005' Bắc, 105045' - 106015' Đông. Phía Bắc giáp Bắc Giang, ranh giới là con sông Cầu. Phía Nam giáp các tỉnh Hưng Yên và Hải Dương. Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, ranh giới là sông Lục Đầu, chỗ hợp lưu của các con sông Cầu, sông Thương, sông Đuống, sông Thái Bình.
Địa hình Phần lớn diện tích là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm khoảng 0,53%, chủ yếu tập trung ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du. Nhìn chung, bề mặt địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, tuy có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300-400m. Ngoài ra còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lung Tài, Quế Võ, Yên Phong.
Khí hậu Bắc Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nắng nóng nhiệt độ trung bình 30 - 36°C, mùa đông lạnh, nhiệt độ từ 15 - 20°C. Lượng mưa trung bình trong năm 1.800mm, số giờ nắng khoảng 1.700 giờ/năm, thích hợp cho trồng lúa và các cây công nghiệp, cây thực phẩm khác. Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào. Sông ngòi Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0-1,2 km/km², có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dân, sông Đông Coi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình...
Tài nguyên thiên nhiên Đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 803,9 km², trong đó đất nông nghiệp chiếm 64,7%, đất lâm nghiệp 0,7%, đất chuyên dùng và đất thổ cư chiếm 23,5%, đất chưa sử dụng còn 11,1%. Đất đai được phù sa các sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình bồi đắp quanh năm nên khá màu mỡ. Cả tỉnh còn 12.750 ha đất trũng ngập ở các huyện: Gia Bình, Quế Võ, Lương Tài, Yên Phong, đất mặt nước chưa sử dụng là 3.114,5 ha, diện tích một vụ còn 7.462,5 ha. Tiềm năng đất đai của tỉnh còn lớn, có thể khai thác sử dụng để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế. Rừng: Toàn tỉnh có khoảng 607 ha rừng, chủ yếu là rừng trồng, phân bổ tập trung ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du, có thể phát triển thành rừng cảnh quan sinh thái. Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279 m³, trong đó rừng phòng hộ 363 m³, rừng đặc dụng 2916 m³.
Khoáng sản: Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thành phố Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn. Du lịch Bắc Ninh hiện có tiềm năng du lịch rất lớn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, làng nghề thủ công truyền thống và lễ hội đặc sắc.
Thắng cảnh Bắc Ninh là quê hương có dòng sông Cầu thơ mộng, có con sông Đuống hiền hòa, có núi Dinh, hay còn gọi là núi Pháo Đài, tuy không to lớn, đồ sộ nhưng hình dáng rất đẹp. Di tích Bắc Ninh là nơi tập trung các di tích lịch sử, văn hóa lâu đời như: đền Đô thờ 8 vị vua Lý, đền Bà Chúa Kho ở làng Cổ Mễ thờ người phụ nữ có công trong cuộc kháng chiến chống quân Tống trên phòng tuyến Như Nguyệt, chùa Bút Tháp có ngọn tháp hình cây bút nổi tiếng khắp nơi, chùa Dâu từng một thời là trung tâm Phật giáo của miền Bắc, chùa Phật Tích là công trình kiến trúc nổi tiếng thời Lý, đình Diềm là ngôi đình cổ đẹp nhất xứ Bắc.....
Văn hoá lễ hội Bắc Ninh có nhiều lễ hội nhưng đáng chú ý nhất là hội Lim và hội đền Đô. Hội Lim diễn ra từ ngày 11-13 tháng Giêng Âm lịch tại thị trấn Lim của huyện Tiên Du. Hội đền Đô diễn ra vào ngày 15 tháng Ba Âm lịch và kéo dài trong bốn ngày. Ngoài ra, còn có nhiều lễ hội khác như: hội chùa Dâu ngày 17/1, hội chùa Phật Tích ngày 4-5/1, hội Đông Hồ ngày 4-7/1....
Làng nghề Bắc Ninh là quê hương của hàng trăm làng nghề, nổi tiếng nhất có thể kể đến như: làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kỵ, làng đồng Đại Bái, làng mộc Hương Mạc, làng mây tre Xuân Lai, làng gốm Phù Lãng....
Bao gồm Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện là: Tiên Du, Yên Phong, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ.
Lịch sử hình thành và phát triển Thời lập quốc, đất Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Đến đời Hán thuộc Giao Chỉ, sau đó thuộc Giao Châu. Dưới thời nhà Đinh, Bắc Ninh thuộc đạo Bắc Giang. Thời Tiền Lê và Lý, Bắc Ninh được đặt làm lộ. Đây là vùng xuất phát nhà Lý (vua Lý Thái Tổ quê ở làng Cổ Pháp, nay thuộc xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn).
Đời nhà Trần, đất này là lộ Kinh Bắc, sau đổi thành trấn Kinh Bắc vào năm 1337. Thời thuộc Minh, trấn Kinh Bắc thuộc phủ Bắc Giang. Năm 1456, thời Hậu Lê, lại đổi thành thành Bắc Đạo. Đến năm 1469, đổi thành xứ, sau cải thành trấn dưới đời Lê Tương Dực (1509-1516). Nhà Mạc đặt là phủ Thuận An thuộc Hải Dương. Nhà Lê Trung Hưng tái lập thành trấn Kinh Bắc. Năm 1593, thuộc Bắc Thành. Dưới triều Nguyễn, từ năm 1822 đổi là trấn Bắc Ninh. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Bắc Ninh, gồm phủ Từ Sơn, huyện Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong, phủ Thuận An (sau đổi là Thuận Thành bao gồm: huyện Siêu Loại do phủ kiêm lý, Gia Lâm, Gia Bình, Văn Giang, Lạng Tài), phủ Thiên Phúc (huyện Thiên Phúc do phủ kiêm lý Hiệp Hoà, Việt Yên, Kim Hoa), phủ Lạng Giang (huyện Phương Nhãn do phủ kiêm lý, huyện Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn).
Năm 1895, Pháp chia Bắc Ninh thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Lục Nam. Dưới thời Pháp thuộc, thị xã Bắc Ninh được tổ chức thành một cứ điểm trọng yếu về quân sự của Bắc Kỳ và là một trung tâm chính trị, kinh tế vùng. Năm 1938, thị xã Bắc Ninh được xếp vào thành phố thứ 5 của xứ Bắc Kỳ sau các đô thị: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hải Dương.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1961, lần lượt tách một phần đất để thành lập tỉnh Phù Lỗ, sau gọi là tỉnh Phúc Yên, tách huyện Gia Lâm nhập vào Hà Nội. Năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Bắc Giang. Đến năm 1996, tỉnh Hà Bắc lại được chia lại thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, từ đó thị xã Bắc Ninh lại trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Ninh mới. Hiện nay, thị xã Bắc Ninh đã được nâng cấp lên thành thành phố, trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Kinh tế Với địa hình tương đối bằng phẳng, thời tiết, khí hậu ôn hòa, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ do được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, do có lợi thế về địa lý, gần thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống giao thông phát triển, kết cấu hạ tầng đang được hoàn chỉnh, Bắc Ninh cũng có điều kiện để phát triển công nghiệp.
Về nông nghiệp: phát triển nông nghiệp phục vụ công nghiệp và đô thị; cung cấp lương thực, thực phẩm rau sạch, chất lượng cao cho các thị trường lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, nhất là rau xanh, hoa tươi, cây cảnh, thuỷ sản, thịt lợn nạc, bò sữa…
Về công nghiệp: Bắc Ninh đang có lợi thế phát triển mạnh gồm: cơ khí, kỹ thuật điện, vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản đặc biệt đồ gỗ cao cấp, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt may.
Trong những năm qua, kinh tế Bắc Ninh đã có bước phát triển, tổng GDP tăng bình quân 12,9% (năm 2001 GDP tăng 14,1%), trong đó nông nghiệp tăng bình quân 6,4%, công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng bình quân 23,1%, thương mại dịch vụ tăng 12,0%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 24,5%, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 18,6%.
Văn hoá Bắc Ninh, Kinh Bắc xưa là vùng đất phía Bắc của kinh thành Thăng Long, là vùng đất trung tâm của châu thổ sông Hồng. Bắc Ninh còn là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ, bộ tạo cho xứ Bắc sớm trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa với một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và văn hoá Việt Nam.
Qua các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu khảo cổ học ở Bắc Ninh cho thấy, đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, đồng thời là bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc. Từ mấy nghìn năm trước, người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương,... sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm thủ công mỹ nghệ.
Khu di tích Luy Lâu rộng hàng trăm ha với hệ thống các công trình thành luỹ, đền chùa, phố xá, chợ, bến, kho tàng, dinh thự, các khu sản xuất gạch ngói, các làng nông nghiệp, làng thợ, làng buôn, khu môn địa,... Đây còn là khu di tích thời Bắc thuộc lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Cùng với quá trình giao lưu, hội nhập và trao đổi kinh tế là quá trình tiếp xúc, hội nhập văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo giữa Việt Nam và các nước trong khu vực mà trung tâm cũng vẫn là Luy Lâu. Nơi đây còn nổi tiếng với trung tâm Phật giáo và những ngôi chùa có quy mô to lớn, cổ kính, kiến trúc rất công phu, tài nghệ như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Bút Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp...
Ngoài ra, Bắc Ninh còn được mệnh danh là vương quốc của lễ hội, chủ yếu là hội chùa, hội đền. Trong đó có những lễ hội lớn, nổi tiếng cả vùng và cả nước như hội Gióng (9-4), hội Dâu (8-4), hội đền Đô, hội Lim, hội Chùa Phật Tích...
Kinh Bắc có nhiều làng nghề nghệ thuật như làng tranh Đông Hồ, làng hát ca trù Thanh Tương, làng rối nước Đồng Kỵ, Bùi Xá, Đa Hội, Tam Lư, Tấn Bảo,...và đặc biệt hơn cả là hệ thống 49 làng Quan họ, một lối chơi, một sinh hoạt văn hóa tinh tường, độc đáo, đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc mà chỉ người Bắc Ninh mới có.
Theo thống kê, hiện nay có 49 làng thuộc đất Kinh Bắc xưa, chủ yếu nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Hàng năm mở hội hát Quan họ. Hội Quan họ chủ yếu được tổ chức trong tháng Giêng và tháng Hai, bắt đầu từ mùng 4 Tết, kết thúc vào hạ tuần tháng Hai. Ngoài ra, vào mùa thu hoặc trong những ngày tế thần thành hoàng làng và những cuộc vui khác trong năm, các làng giao hiếu có thể tổ chức hát Quan họ Về nguồn gốc của hát Quan họ, giữa các làng Quan họ có cách giải thích khác nhau. Có đến hơn một chục truyền thuyết, nhưng chung quy lại có một số cách cắt nghĩa được nhiều người đồng tình, thuộc một số làng có tục lệ hát kết giao, kết chạ với nhau, lưu truyền giai thoại về Trương Chi và Mỵ Nương. Theo tục truyền thì Trương Chi sống bằng nghề chài lưới trên sông Tiêu Lương. Tuy ngoại hình xấu, nhưng có giọng hát mê hồn. Chàng đem lòng yêu cô Mỵ Nương, con một viên quan, có nhan sắc lộng lẫy và chính Mỵ Nương yêu đắm đuối tiếng hát Trương Chi. Mối tình đã thôi thúc Trương Chi sáng tác nhiều lời ca hay và thường hát những bài ca đó. Về sau người ta truyền nhau hát mãi những lời ca của Trương Chi để có Quan họ như ngày nay? Để có được các “Quan họ liền anh” và “Quan họ liền chị” cũng như các hội hát Quan họ trong vùng, các làng Quan họ phải có sự đào tạo và tổ chức tốt các “ liền anh, liền chị Quan họ”. Theo đó là sự kết bạn Quan họ khác giới tính giữa các làng, cách đón tiếp mời mọc các bạn Quan họ, cách hát và một số quy định giữa các bạn Quan họ để duy trì hình thức hát độc đáo này… Hội Quan họ của từng làng được mở trong dịp làng thờ thành hoàng làng. Có nghĩa là: sau nghi lễ thờ cúng thành hoàng, các bạn Quan họ vào cuộc hát. Tùy theo truyền thống và đặc trưng của các làng mà hội Quan họ có thể hát trong nhà, hát trước sân đình, hát bên chùa hoặc hát trên những bãi đất rộng, hát trên thuyền, giữa bao la sông nước. Cùng với hát Quan họ, hội của các làng xứ Kinh Bắc còn tổ chức khá nhiều trò vui truyền thống, các hội thi, hội chợ và các sinh hoạt văn hóa khác.Là tỉnh nằm ở vùng trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Ninh có hệ thống giao thông khá đồng bộ về đường ô tô, đường sắt và đường thuỷ. Đường ôtô: Quốc lộ 1A từ Hà Nội, qua Bắc Ninh, Bắc Giang đến Lạng Sơn. Quốc lộ 18 nối sân bay Nội Bài với cảng Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh, đi qua địa bàn các huyện Yên Phong, Quế Võ và thành phố Bắc Ninh. Quốc lộ 38 từ thành phố Bắc Ninh, qua huyện Cẩm Giàng của tỉnh Hải Dương, đến thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Đường sắt: tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội - cửa khẩu Hữu Nghị, chạ̣y song song với quốc lộ 1A, qua địa bàn các huyện Từ Sơn, Tiên Du, và thành phố Bắc Ninh.
Đường thuỷ: việc lưu thông thuỷ trên địa bàn tỉnh khá dễ dàng. Từ sông Cầu, sông Thái Bình có thể theo sông Đuống qua sông Hồng. Ngoài ra còn có hệ thống sông nội bộ giúp lưu thông giữa các huyện trong tỉnh như: sông Ngũ Huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.
Hướng phát triển Hiện tại, tỉnh đã có hướng quy hoạch 4 xã: Phật Tích, Hoàn Sơn, Hiên Vân, Việt Đoàn làm khu du lịch tâm linh - sinh thái với quy mô 1.500 ha, trong đó lấy Phật Tích làm trung tâm với tổng vốn đầu tư dự kiến 1.000 tỷ đồng. Hình thức đầu tư huy động 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc trong nước.
Bước đầu, để thu hút khách và tạo điều kiện cho các nhà vào đầu tư… tỉnh đã xây dựng và triển khai dự án (giai đoạn 1), gồm 7 tuyến đường nhánh vòng quanh khu du lịch Phật Tích, có chiều dài 5 km với tổng kinh phí gần 11 tỷ đồng. Đến nay, 3 tuyến đã hoàn thành đưa vào sử dụng với chiều dài 3 km, các tuyến còn lại, đang được đẩy nhanh tiến độ. Song song với đó, nhà chùa đã chủ động xây dựng và hoàn thiện, đưa vào sử dụng một số công trình như: Trung tâm tu tập Phật Tích (Quan Âm viện); khu nhà khách, khu thư viện, hội trường, đường lên đỉnh núi Phật Tích và một số hạng mục khác với tổng kinh phí hơn chục tỷ đồng. Đặc biệt, hiện nay, nhà chùa tiếp tục đầu tư làm pho tượng phật A di đà bằng đá xanh cao 27m, dự kiến đặt trên đỉnh núi Phật Tích. Kinh phí chủ yếu do khách thập phương, sự hảo tâm công đức của các doanh nghiệp và Trung tâm Phật giáo Việt Nam trợ giúp. Nhờ vậy, bước đầu, khu du lịch Phật Tích đã có cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp,… hấp dẫn ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước đến thm quan, trung bình ước đạt 28-30 nghìn lượt/năm, dịp lễ hội (mồng 4 và 5-1 âm lịch) ước đạt 18-20.000 lượt. Chuyển nhà thành hưng, Taxi tải thành hưng

  Ý kiến bạn đọc

background200 800 left
background200 800 right
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây